Thông báo

-14h00: Họp xây dựng Kế hoạch năm học 2020-2021 của Trường CĐSP Thái Bình. Thành phần: Lãnh đạo Trường (mời đ/c Hằng-Trưởng phòng Đào tạo, đ/c Dũng-Phó trưởng phòng TC-HC, đ/c Tuyết phòng TC-HC tham gia). Địa điểm: Phòng họp số 1
- 16h30: Họp Hội đồng Tuyển sinh. Thành phần: Theo Quyết định. Địa điểm: Phòng họp số 1

BÀI VIẾT NỔI BẬT

Bàn về khái niệm tính tích cực xã hội của con người

Xã hội - dưới bất kì hình thái nào cũng đều là sản phẩm của sự tác động lẫn nhau giữa người với người. Lịch sử xã hội không tách rời lịch sử hình thành, phát triển bản thân con người. Không phải lịch sử dùng con người làm phương tiện để đạt mục đích của nó, mà bản thân lịch sử chẳng qua là hoạt động của con người theo đuổi những mục đích nhất định. Con người tự mình sáng tạo nên lịch sử. Con người trở thành nhân tố quyết định sự phát triển của lịch sử.

Để diễn đạt vị trí, vai trò và những ảnh hưởng của con người trong hoạt động nhận thức và thực tiễn cải biến tự nhiên và xã hội, đồng thời cũng là sự tự biểu hiện, tự khẳng định những sức mạnh tiềm tàng của con người trong quá trình phát triển và hoàn thiện bản thân mình, người ta dùng khái niệm “Nhân tố con người” với tư cách là phạm trù triết học - xã hội.

Đặc biệt, để chỉ sự tác động trở lại của con người đối với hoàn cảnh một cách tích cực, người ta dùng khái niệm Tính tích cực xã hội (TTCXH) của con người.

Trong lịch sử tư tưởng, không phải bao giờ TTCXH của con người cũng được quan niệm đúng đắn.

Tư tưởng triết học thời cổ đại chủ yếu coi con người là một bộ phận của vũ trụ, là tiểu vũ trụ phục tùng số phận đã được tiền định. Về thực chất, họ phủ nhận vai trò chủ thể của con người, phủ nhận TTCXH của con người.

Triết học duy tâm thế kỉ XIX và đầu thế kỉ XX lại khuếch đại yếu tố tinh thần. Triết học cổ điển Đức - nền triết học tiếp tục tư tưởng nhân đạo, tiêu biểu là G.Heghen đã thừa nhận tính tích cực của con người, nhưng ông chỉ giới hạn trong tính tích cực tinh thần, ý thức, chứ không nói đến tính tích cực thực tiễn cải tạo thế giới. Trong khi L.Phoiơbắc - nhà triết học duy vật cổ điển Đức thừa nhận con người là sản phẩm của hoàn cảnh và tin vào sức mạnh lí trí của con người. Nhưng, hạn chế của ông là: chưa hiểu con người là chủ thể tích cực của hoàn cảnh. Ông coi thường hoạt động thực tiễn của con người, xem nó là hoạt động con buôn bẩn thỉu, chứ không phải là thực tiễn cách mạng cải biến thế giới.

Như vậy, trước Mác, TTCXH của con người chưa được nhận thức một cách đầy đủ. Bắt đầu từ chủ nghĩa Mác, con người được đặt đúng ở vị trí trung tâm của triết học. Con nguời vừa là sản phẩm của hoàn cảnh, vừa là chủ thể của lịch sử. TTCXH của con người là thuộc tính bản chất của con người. Đó chính là tư tưởng triết học đúng đắn về TTCXH của con người với tư cách là chủ thể sáng tạo lịch sử.

Trong các tài liệu hiện nay, đã nêu khá nhiều quan niệm về TTCXH của con người. Có thể khái quát lại trên một số dạng sau đây:

Thứ nhất, TTCXH của con người được quan niệm là toàn bộ những biểu hiện của hoạt động của con người.

Thứ hai, TTCXH được hiểu như là đặc tính tâm lý bản chất của con người.

Thứ ba, một số tác giả xem TTCXH chỉ là TTC của con người trong lĩnh vực xã hội của đời sống con người. Có thể hiểu đây như nghĩa hẹp của khái niệm TTCXH. TTCXH với tính cách là thuộc tính bản chất của con người thì cần phải được xem xét, thể hiện trên tất cả các hoạt động đa dạng của đời sống con người như: kinh tế, chính trị, văn hóa - tinh thần.

Vì thế, để có một quan niệm đúng về TTCXH của con người cần nghiên cứu vấn đề này một cách hệ thống hơn. Trong Tiếng Việt, Tính là “những đặc trưng tâm lí ổn định riêng của mỗi người” [1]. Nó thường biểu hiện ra trong thái độ, hành vi, cử chỉ. Từ “Tích cực” được hiểu theo hai nghĩa:

Nghĩa thứ nhất, chỉ ý nghĩa của hoạt động con người. Đó là những hoạt động đem lại lợi ích cho con người, cho xã hội; có ý nghĩa cho sự phát triển, tiến bộ xã hội.

Nghĩa thứ hai, chỉ khía cạnh tâm lí - ý thức, như là tinh thần hăng hái, lòng nhiệt tình, ý chí quyết tâm của con người, thúc đẩy họ hành động.

Tương ứng với từ “Tính tích cực” trong tiếng Việt là “chủ động, hướng hoạt động nhằm tạo ra những thay đổi, phát triển” [2], hay trong tiếng Anh: “ACTIVE” cũng có nghĩa là tính chủ động, tính năng động, sôi nổi, hăng hái. Từ “xã hội” trong tiếng Việt và tiếng nước ngoài đều được phân thành hai nghĩa: nghĩa rộng, chỉ toàn bộ xã hội loài người, là sản phẩm của sự tác động lẫn nhau giữa người với người, biểu hiện trong các quan hệ giữa con người với con người trên tất cả các lĩnh vực khác nhau của đời sống; nghĩa hẹp, chỉ một mặt của xã hội loài người. Trong trường hợp này người ta quan niệm đời sống xã hội con người có ba lĩnh vực độc lập tương đối nhau: kinh tế, chính trị và xã hội. Khi nói TTCXH, chúng ta hiểu “xã hội” theo nghĩa rộng, chứ không phải theo nghĩa hẹp.

Để có một quan niệm đầy đủ về TTCXH của con người phải xuất phát từ quan điểm con người là chủ thể hoạt động sáng tạo.

Một là, trên phương diện triết học, TTCXH trước hết thuộc về phạm trù ý thức. Lí luận phản ánh của chủ nghĩa duy vật biện chứng đã luận giải khoa học và khẳng định bản chất ý thức là sự “phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ óc người một cách năng động, sáng tạo” [3]. Sự phản ánh này khác với phản ánh thông thường vì đó là phản ánh trong quá trình con người cải tạo thế giới. Trong quá trình đó, tính sáng tạo (TTCXH) của ý thức được thể hiện ra rất phong phú.

Trong sự phát triển tư tưởng triết học về con người thì TTCXH của con người được coi như là tính tự khẳng định mình. Con người bằng hoạt động tích cực tách mình khỏi giới tự nhiên, chiếm hữu giới tự nhiên, khẳng định tư cách con người của mình. Chúng ta sẽ không thể nhận biết được TTCXH của con người nếu con người không thể hiện nó bằng hành động trong thực tiễn.

Quá trình từ những sự phản ánh sáng tạo vào trong bộ não đến hành động cải tạo thực tiễn là vòng khâu của một quá trình nhận thức của con người. Chính trong quá trình nhận thức đó, TTCXH được thể hiện rõ nét. Trên cơ sở thực tiễn, nhận thức của con người không ngừng vươn lên để phản ánh hiện thực khách quan đầy đủ hơn, sâu sắc hơn và sáng tạo hơn bằng hệ thống những khái niệm, phạm trù và sử dụng chúng như những phương tiện để “nắm bắt” thế giới. Quá trình vươn lên không ngừng trong phản ánh thế giới khách quan cũng chính là quá trình tích cực hóa năng lực tư duy của con người thông qua sự trừu tượng hóa, khái quát hóa, suy lí logic để nắm bắt lấy những quy luật của hiện thực khách quan và vận dụng chúng vào hoạt động thực tiễn.

Hai là, việc con người cải biến tự nhiên theo nhu cầu, mục đích của mình thông qua thực tiễn chính là sự khẳng định TTCXH của con người như là thuộc tính bản chất của con người. V.I.Lênin khẳng định: “Thế giới không thỏa mãn con người và con người quyết định biến đổi thế giới bằng hoạt động của mình” [4].

Chính con người từng bước nhận thức, khám phá ra những thuộc tính, bản chất, quy luật, sức mạnh của tự nhiên và đã vận dụng, sử dụng chúng để cải biến tự nhiên theo mục đích của mình.

Ba là, TTCXH của con người còn được khẳng định ở hoạt động sáng tạo ra lịch sử, làm cho lịch sử vận động theo hướng tiến bộ.

Lịch sử nhân loại chính là lịch sử hoạt động của con người. Con người là chủ thể tích cực sáng tạo nên lịch sử của chính mình. Họ là lực lượng quyết định trong hoạt động sản xuất, là chủ thể của các quan hệ kinh tế - xã hội và là chủ thể của mọi giá trị tinh thần của xã hội.

Sự phát triển của lịch sử, suy cho cùng được quyết định bởi sự phát triển của lực lượng sản xuất. Những người lao động là lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn nhân loại. Con người cải tiến công cụ lao động, thay đổi cách thức sản xuất, thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển. Con người - với tư cách là chủ thể các quan hệ sản xuất, bằng hoạt động thực tiễn cách mạng của mình, tạo lập nên quan hệ sản xuất mới, phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất mới. Trong những cuộc cách mạng xã hội, con người luôn đứng ở vị trí trung tâm của cuộc cách mạng. Họ tiến hành những cuộc đấu tranh cách mạng đưa xã hội phát triển sang một giai đoạn mới tiến bộ hơn. Đó chính là vai trò tích cực của con người trong việc tạo sự phát triển của lịch sử nhân loại thông qua quá trình thay thế các hình thái kinh tế - xã hội.

Bốn là, TTCXH của con người nhìn từ phương diện tâm lí là những đặc tính (hay thuộc tính) tâm lí của con người, nói lên thái độ tích cực, chủ động của nó đối với điều kiện, hoàn cảnh, môi trường xã hội.

Về khía cạnh này, TTCXH được thể hiện dưới các dạng:

- Những động cơ, lí tưởng. Đó là tinh thần xả thân vì nghĩa cả, sẵn sàng hi sinh vì nước, vì sự nghiệp lớn lao của dân tộc, của giai cấp hay của cả nhân loại.

- Là tinh thần hăng say tìm hiểu chân lí, là ý chí của các nhà khoa học, sẵn sàng hiến dâng cuộc đời cho khoa học đến mức có thể hi sinh cả bản thân mình.

- Là lòng tự trọng, là tinh thần trách nhiệm, là sự hăng hái hoàn thành bất kì một công việc hữu ích nào đó.

Tất nhiên, tinh thần hăng hái, nhiệt tình, tính chủ động, sáng tạo của con người chỉ mang ý nghĩa TTCXH khi nó thông qua hoạt động nhận thức và thực tiễn của con người, tạo ra những giá trị xã hội, thúc đẩy xã hội phát triển nhanh chóng. Ngược lại, hoạt động của con người mang ý nghĩa, tác dụng thúc đẩy xã hội phát triển lại là cơ sở khơi dậy, nhân lên tinh thần hăng hái, chủ động sáng tạo của chính bản thân con người. Vì vậy, giữa TTCXH của con người và sự phát triển của xã hội do hoạt động của con người mang lại có mối quan hệ chặt chẽ, tác động qua lại lẫn nhau, hỗ trợ cho nhau.

Từ những phân tích trên, có thể khẳng định: TTCXH là thuộc tính bản chất của con người. Đó là tính chủ động, sáng tạo và lòng hăng hái, nhiệt tình, quyết tâm của con người trong những hoạt động có ý nghĩa nhằm thúc đẩy sự phát triển và tiến bộ xã hội.

Như vậy, TTCXH của con người khác với TTC nói chung. TTC nói chung chỉ là sự hăng hái, cố gắng của con người trong hoạt động, không kể đến hiệu quả và ảnh hưởng xã hội của nó. TTCXH cũng khác với TTC cá nhân. TTC cá nhân là sự hăng hái, tinh thần phấn đấu không biết mệt mỏi của cá nhân con người vì một mục tiêu mà mình hướng tới. TTC cá nhân có thể vì mục tiêu, lí tưởng cao cả góp phần tạo nên sự tiến bộ xã hội. Khi đó, nó trở thành TTCXH. TTC cá nhân cũng có thể vì những mục tiêu cá nhân ích kỉ, tầm thường. Khi đó, nó lại đối lập với TTCXH. Còn TTCXH luôn luôn là sự hăng hái, nhiệt tình, quyết tâm phấn đấu vì sự tiến bộ xã hội, cho xã hội, bằng những hành động thiết thực, cụ thể, có ý nghĩa của con người. TTCXH và yếu tố con người là hai phạm trù thống nhất với nhau. Nói đến TTCXH là nói đến thuộc tính bản chất của con người. Ngược lại, nói tới yếu tố con người là nói tới tính chủ thể hay chính là nói đến vai trò tích cực của con người đối với sự phát triển xã hội.

(Người viết bài: Th.s Nguyễn Thị Huệ - Bộ môn Lí luận chính trị)

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1]. Nguyễn Như Ý (Chủ biên) (1999), Đại từ tiếng việt, Nxb Văn hóa thông tin, Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 1651.

[2]. Nguyễn Như Ý (Chủ biên) (1999), Đại từ tiếng việt, Nxb Văn hóa thông tin, Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 1627.

[3].Bộ Giáo dục và Đào tạo (2006), Giáo trình Triết học Mác – Lenin, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 170.

[4]. V.I.Lenin, (2005), Toàn tập, Tập 29, Nxb Tiến bộ Matxcơva, tr. 229.

 

TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM THÁI BÌNH

Địa chỉ: Phố Chu Văn An, phường Quang Trung, thành phố Thái Bình

Điện thoại: (0227) 3 83 11 44    *    Fax: (0227) 3 83 00 40

Email: cdsptb@gmail.com    *    Website: www.cdsptb.edu.vn